Giới thiệu Green Hà Nam

Các đối tác thực hiện: Dự án được tài trợ bởi tổ chức năng lượng bền vững Đan Mạch (OVE) từ nguồn viện trợ của DANIDA, Trung tâm phát triển cộng đồng bền vững (S-CODE) là đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện và quản lí dự án cùng với sự phối hợp của OVE và Trung tâm nghiên cứu và Phát triển bảo tồn năng lượng (ENERTEAM).

Tổ chức năng lượng bền vững Đan Mạch (OVE) là một tổ chức Phi chính phủ của Đan Mạch. Các dự án do OVE thực hiện liên quan đến vấn đề môi trường tại khu vực nông thôn và thành thị. OVE vừa là nhà tài trợ vừa cùng phối hợp thực hiện dự án với S-CODE. Chuyên gia của OVE sẽ làm việc ở Hà Nam trong năm đầu tiên của dự án để đảm bảo thành công của dự án.

Trung tâm Phát triển Cộng đồng bền vững (S-CODE) trực thuộc Hội nghiên cứu Khoa học Đông Nam Á, hoạt động trong lĩnh vực phát triển cộng đồng và xóa đói giảm nghèo. S-CODE làm việc tạo ra các giải pháp bền vững nhằm giảm nghèo và cải thiện sức khỏe và điều kiện sống ở Việt Nam thông qua các dự án phát triển cộng đồng và bảo vệ môi trường S-CODE là đối tác chính trong dự án này, chịu trách nhiệm báo cáo với OVE kết quả hoạt động/tài chính của dự án.

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển bảo tồn năng lượng (ENERTEAM), chuyên về nghiên cứu khoa học, công nghệ và môi trường ở thành phố HCM. Lĩnh vực hoạt động chính của ENERTEAM là hồi phục, nâng cao hiệu quả, bảo tồn năng lượng và bảo vệ môi trường khu công nghiệp, vận tải và dịch vụ. Enerteam chịu trách nhiệm về kết quả dự án liên quan đến phần kỹ thuật.

Các bên liên quan tại địa phương bao gồm: chính quyền tỉnh Hà Nam, chính quyền huyện Thanh Liêm, chính quyền thôn, 3 xã của huyện Thanh Liêm cũng đã tham gia vào quá trình xác định dự án và xây dựng văn kiện.

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ DỰ ÁN

2.1 Bối cảnh chung của Việt Nam

Trong hai thập kỉ qua, Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế nhờ công cuộc đổi mới từ năm 1986. Tuy nhiên, nếu không có những thay đổi mang tính đột phá thì đà phát triển của Việt Nam sẽ bị kìm hãm, một xu hướng tất yếu là cần kết hợp chặt chẽ nông nghiệp với phát triển công nghiệp và khu vực kinh tế tư nhân.

Từ năm 1991 đến 2000, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7.5%/năm, trong khi tỉ lệ nghèo đói đã giảm xuống còn 2/3 trong vòng 11 năm qua từ 58% năm 1993 xuống 19.5% năm 2004, đặt nền móng cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, bền vững và ổn định của nước ta.

Theo tiêu chuẩn Châu Á, Việt Nam là nước có tốc độ đô thị hóa chậm (26% năm 2004). Mỗi năm khoảng 10.000 ha đất nông nghiệp ở khu vực ven đô được chuyển đổi mục đích sử dụng. Dân số ngày càng tăng, do đó cần có những giải pháp thích hợp cho các khu vực nông nghiệp đang trên đà đô thị hóa.

Chính sách và Pháp luật

Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (KHPTKTXH) 2006 – 2010 chú trọng đến việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ để tạo đà phát triển và tăng trưởng kinh tế cho đất nước và là một phần trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS)

Kế hoạch PT KTXH chú trọng tới các lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị, xác định xu hướng phát triển cho các ngành và lĩnh vực, đưa ra những giải pháp cần thiết về chính sách và đầu tư, kết hợp hài hòa các yếu tố cơ bản trong chiến lược giảm nghèo và được bổ sung cho phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế xã hội của từng khu vực trong nước.

Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường (CLQG BVMT) 2001 đến 2010 cũng nêu rõ cần phải bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên khỏi ô nhiễm môi trường. Bộ TNMT có trách nhiệm trong việc triển khai 3 mục tiêu lớn là ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm môi trường, bảo tồn và duy trì bền vững trong sử dụng nguồn tài nguyên sinh vật và cải thiện chất lượng môi trường tại khu vực đô thị, khu công nghiệp và khu vực nông thôn. CLQG BVMT hướng tới sự kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường với chiến lược xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, giữa CLQG BVMT và KHPT KTXH chưa hoàn toàn.gắn kết mật thiết với nhau

Phát triển bền vững, môi trường, đói nghèo và giới cũng là mối quan tâm của chính phủ Việt Nam. Chương trình nghị sự quốc gia lần thứ 21 đã có nhiều ý kiến về phát triển kinh tế xã hội lồng ghép với bảo vệ môi trường và tăng cường ưu tiên cho cả hai giới nhưng cũng cần tập trung vào phụ nữ. Kế hoạch PT KTXH và Nghị định Dân chủ cơ sở số 79/2003 tạo ra khung pháp lí quan trọng cho việc tham gia của xã hội dân sự vào phát triển địa phương.

2.2 Sơ lược tình hình kinh tế vùng dự án Hà Nam

Hà Nam nằm ở phía Nam Hà Nội, dân số 800.000 người, diện tích 840 km2 chủ yếu là sản xuất lúa gạo. Nông nghiệp chiếm gần 40% GDP và nghề nông là nghề chính của hơn 80% dân số nông thôn. Các mô hình kinh tế hộ gia đình và kinh tế cá thể thường tập trung ở các làng nghề thủ công thu hút 80% lực lượng lao động chính thức trong các xí nghiệp tại Hà Nam. Ở những khu vực đông dân việc hình thành các cơ sở sản xuất như vậy đã dẫn tới ô nhiễm nặng nề, người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi chất thải công nghiệp chưa qua xử lí, ô nhiễm về tiếng ồn và không khí tăng lên, thiếu nước sạch và suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên khác.

Các khu vực ven đô như huyện Thanh Liêm của tỉnh Hà Nam là một khu vực điển hình. Những thách thức mới trong quản lí tài nguyên thiên nhiên và cải thiện hệ thống dịch vụ, bao gồm thu gom rác thải, cung cấp nước sạch sinh hoạt, hệ thống vệ sinh, hệ thống thoát nước thải, quy hoạch và quản lý đất. Phương pháp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tại các hộ gia đình đã ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường. Nhiều bất cập nảy sinh trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là việc sử dụng nước trong sản xuất nhỏ và sản xuất nông nghiệp, cùng với nước sinh hoạt, rác thải chăn nuôi cũng gây ô nhiễm và suy giảm nguồn nước ăn.

Chính quyền địa phương không có khả năng xác định những nhu cầu cấp thiết này, do đó một yêu cầu bức thiết được đặt ra là trang bị cho họ năng lực quản lí khu vực đô thị đang trong quá trình chuyển đổi. Với tất cả các lý do nêu trên, chính quyền địa phương cần xây dựng một chiến lược mới dựa trên thực tế và ưu tiên của địa phương

2.3 Bối cảnh vùng dự án Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên cách Hà Nội 80km đóng một vai trò quan trọng trong trao đổi kinh tế giữa khu vực trung du miền núi với Đồng bằng Bắc Bộ thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt và đường sông. Với tổng diện tích là 3.541 km2 và dân số hơn 1 triệu người với 8 dân tộc khác nhau, Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính, bao gồm thành phố Thái Nguyên, thị trấn Sông Công và 7 huyện là Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Đình Hòa và Phú Lương.

Giống như Hà Nam, Thái Nguyên cũng có ngành công nghiệp khai thác mỏ gây ô nhiễm môi trường, nhưng phần lớn khu vực chịu ảnh hưởng nhiều bởi nông nghiệp. Các xã nghèo cũng gặp những vấn đề tương tự Hà Nam. Xã Động Đạt, huyện Phú Lương cũng là một điểm nóng về ô nhiễm môi trường và sẽ được triển khai những mô hình thành công ở Hà Nam.

2.4 Lý do cần phải có dự án

Qua chuyến khảo sát cho thấy những vấn đề bất ổn trong sinh hoạt và sản xuất của người dân tại tỉnh Hà Nam cũng như ở ba xã của huyện Thanh Liêm, mà nguyên nhân gây ra bởi cả yếu tố khách quan và chủ quan. Hơn nữa, khả năng nhận thức và năng lực của cộng đồng về bảo vệ và quản lí môi trường địa phương chưa cao đã ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và tốc độ phát triển kinh tế cũng như việc duy trì các hoạt động kinh tế hiện tại. Một yếu tố khác là những hạn chế về năng lực của chính quyền địa phương trong việc giải quyết vấn đề liên quan đến môi trường, vì có sự phát sinh những vấn đề tương tự như ở khu vực đô thị.

Do hệ thống quản lí hành chính và năng lực của chính quyền địa phương hạn chế, cần phải tăng cường nhận thức và nâng cao năng lực cho các xã và nhân dân để họ đóng vai trò tiên phong trong quản lí và cải thiện môi trường.

Việc tham gia rộng rãi và khuyến khích nhân dân vào quản lí môi trường là chìa khóa cho quá trình thúc đẩy sự phát triển bền vững. Dựa trên những vấn đề xác định trong giai đoạn khảo sát ban đầu để hướng trọng tâm vào tiếp cận quá trình quản lí môi trường có sự tham gia của cộng đồng. Các đối tác tham gia hoạt động triển khai sẽ tham gia các khóa tập huấn, chiến dịch truyền thông, hỗ trợ các hoạt động triển khai dự án Việc nâng cao năng lực của cộng đồng để các cộng đồng có thể tham gia vào quá trình ra quyết định, cộng đồng thảo luận để tìm ra những giải pháp với sự hỗ trợ của dự án.

Về phía địa phương, chính quyền xã và huyện không có biện pháp đủ mạnh để ngăn chặn do thiếu kinh phí; việc đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ còn yếu. Tỉnh đã ban hành các quy định đối với các nhà máy đóng trên địa bàn tỉnh phải giảm ô nhiễm không khí và nước thải. Tuy nhiên hiệu lực của những quy định này phụ thuộc vào lương tâm và trách nhiệm của các chủ nhà máy.

Tuy có những cảnh báo về khó khăn người dân sẽ và đang gặp phải như ô nhiễm môi trường sống, nguồn nước, sức khỏe bị giảm sút, trình độ dân trí thấp… song những căn nguyên của chúng lại ít được nhìn một cách rành mạch, thấu đáo. Hiện tại nguồn lực của chính phủ còn có hạn, khả năng quản lý của địa phương còn hạn chế và thiếu kinh nghiệm trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đây là những vấn đề tồn tại cần phải tìm những giải pháp phù hợp.

Từ những vấn đề nổi cộm về môi trường ở Thanh Liêm (Hà Nam) và Phú Lương (Thái Nguyên), việc can thiệp của dự án do S-CODE đề xuất là rất cần thiết. Sự can thiệp kịp thời sẽ giúp giảm thiểu những tác động xấu ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân ở những khu vực này. S-CODE và các đối tác là Tổ chức năng lượng Đan Mạch (OVE) và Trung tâm nghiên cứu và phát triển bảo tồn năng lượng (Enerteam) mong muốn giúp người dân cải thiện điều kiện sống và nâng cao năng lực quản lý môi trường tại các huyện của 2 tỉnh Hà Nam và Thái Nguyên.

2.5 Chiến lượccủa dự án:

2.5.1 Chiến lược chính của dự án

Xác định mục tiêu: kết hợp các sinh hoạt cộng đồng với các hoạt động truyền thông tới các nhà hoạch định chính sách, những cán bộ nòng cốt của chính quyền và những người đóng vai trò chủ chốt. Hiện nay những kinh nghiệm thực tế và các ví dụ điển hình ở khu vực nông thôn VN còn đang thiếu. Những dự án này kêu gọi “sự tham gia của cộng đồng vào phát triển bền vững” và được coi là ý tưởng cơ bản của dự án..

Chiến lược dự kiến đã được xác định để phù hợp với khả năng nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong bối cảnh các cơ hội và thách thức.

Mục đích của chiến lược sẽ tập trung vào 2 cấp: địa phương và huyện/tỉnh.

II. MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN

3.1. Mục tiêu dài hạn

Cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường sinh sống, môi trường sản xuất ở nông thôn và tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong việc quản lí môi trường ở 10 thôn nghèo của 2 huyện ven đô tới năm 2015.

3.2. Mục tiêu ngắn hạn

Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về môi trường sống, môi trường sản xuất thông qua việc xây dựng các mô hình và các hoạt động cụ thể trong việc xử lý rác thải hữu cơ và nước sinh hoạt cho người dân nghèo tới năm 2011.

III. CÁC KẾT QUẢ CỦA DỰ ÁN

Nâng cao nhận thức:

Huy động cộng đồng:.

Lập kế hoạch và quản lí:

Triển khai. Các mô hình và các phương pháp được ưu tiên, thực hiện và nhân rộng các hoạt động dự án tới cộng đồng, các hộ gia đình và sản xuất nhỏ của 10 xã về:

    Kiểm soát ô nhiễm môi trường

    Quản lý rác thải

    Các giải pháp năng lượng và khí hậu tại hộ gia đình

    Các giải pháp về nước

    Sản xuất nông nghiệp bền vững

    Các hoạt động phi nông nghiệp bền vững

Tăng cường năng lực và vận động chính sách: Tăng cường khả năng của cộng đồng và các tổ chức Phi chính phủ (S-CODE, Enerteam, ..) trong việc tuyên truyền vận động về nhu cầu và vai trò của cộng đồng trong quản lí và bảo vệ môi trường. VĐCS sẽ hướng tới chính quyền cấp huyện và tỉnh thông qua các mạng lưới và diễn đàn cấp quốc gia

Nhu cầu và quyền lợi của phụ nữ nghèo: Các nhu cầu và quyền lợi cơ bản của phụ nữ nghèo được xác định, ưu tiên và thực hiện.

Bài viết khác
Giới thiệu ENERTEAM (11/11/11)
Giới thiệu OVE
Giới thiệu OVE (11/11/11)
Giới thiệu S-CODE
Giới thiệu S-CODE (02/11/11)